4. Chăm sóc Chè

4. Chăm sóc Chè

Chăm sóc Chè Tân Cương Thái Nguyên:

4.1 Bón phân

Ở thời kỳ kinh doanh để xác định lượng phân bón cho chè cần phải căn cứ vào;

* Từng loại đất (đất có tầng canh tác dầy, đất dốc,…)

* Khí hậu và thời tiết

* Màu sắc của lá chè thái nguyên;

* Năng suất chè búp tươi thu được trên một đơn vị diện tích (kg chè búp tươi/sào hay ha). Nghĩa là các nương chè có năng suất khác nhau thì lượng phân bón cũng khác nhau nhưng phải tuân theo nguyên tắc bón sâu, bón cân đối giữa các loại phân hữu cơ, phân đạm, lân và kaly.

Tỷ lệ N:P:K tương ứng là (2-3):1:1, mức bón phổ biến là 30 kg N/tấn búp tươi,  năng suất càng cao yêu cầu bón tỷ lệ đạm càng cao. Lượng phân cần thiết khuyến cáo bón cho 1 tấn chè búp tươi là:

Đạm uê: 65 kg

Lân super; 63 kg

Ka ly: 17 kg

Phân đạm một năm bón từ 3-4 lần. Kaly bón 2-3 lần, lân bón một lần, chú trọng đầu vụ để đảm bảo sản lượng chè và dành một phần vào cuối vụ giúp cây qua đông.

Thời gian bón: Phân đạm ure bóm vào tháng 2,4,6 và tháng 8.

                        Phân ka ly: Tháng 2,4

                        Phân lân: Tháng 2

Tất cả các loại hình kinh doanh đều áp dụng phương pháp 3 năm bón một lần phân hữu cơ 1 tấn + 100 kg lân/sào, trộn đều bón rạch sâu 15-20 cm.

- Không nên sử dụng tro (sản phẩm sau khi đốt) của bất kỳ loại cây nào để bón cho chè (bởi vì tro là chất kiềm).

- Luôn chú ý tăng cường sử dụng chất hữu cơ, phân xanh, phân vi sinh và   giảm nhu cầu sử dụng phân vô cơ.

            - Không bón phân khoáng trong các tháng mùa khô và lúc trời mưa to, tránh bón phân trong vùng  cách dòng sông hoặc mương nước 3-4m.

            - Hạn chế đến mức tối đa mất mát dinh dưỡng do cỏ dại và các cây trồng xung quanh đồi chè

            - Chỉ được phép sử dụng phân bón có trong danh mục phân bón được khuyến cáo của cán bộ kỹ thuật

            - Phân hữu cơ phải được xử lý đúng quy định trước khi sử dụng

            - Đảm bảo ghi chép đầy đủ mọi hoạt động liên quan đến việc bón phân (Loại phân, ngày bón, thành phần phân bón, lượng bón, nơi bón, phương pháp bón, ngừơi bón)

            - Dụng cụ bón phân phải được kiểm tra đảm bảo an toàn, sạch sẽ

            - Lưu kho phải đảm bảo vệ sinh, bảo vệ môi trường, tránh ô nhiễm nguồn nước

* Không bón phân trong phạn vi 5 m sát nguồn nước và 10 m sát sông suối           

            * Mọi hoạt động bón phân phải được ghi chép đầy đủ trong sổ nhật ký nông hộ với những thông tin yêu cầu.

            * Thiết bị bón phân phải được bảo dưỡng thường xuyên, nếu là thiết bị cơ giới có động cơ phải được kiểm định bởi đơn vị có thẩm quyền kiểm định.

            * Lưu kho phân bón:

Phân bón hữu cơ và vô cơ phải được lưu kho riêng tách ra khỏi khu vực chè đã thu hoạch, công cụ, vật liệu đóng gói, thuốc bảo vệ cây và thực phẩm.

Phân bón vô cơ và hữu cơ được lưu kho theo cách giảm rủi ro phân bón ngấm vào nguồn nước. Với phân chuồng hữu cơ, khoảng cách trực tiếp với nguồn nước ít nhất là 25 mét. Đối với phân bón vô cơ, phải có hệ thống cất giữ phân bón đang dùng dở tránh rò rỉ phân bón hóa chất lỏng. 

Lưu giữ phân bón vô cơ và hữu cơ (trừ phân ủ vi sinh) phải ở nơi sạch, khô ráo và thông gió tốt, có mái che tránh nắng mưa và sương có biển báo rõ ràng, dễ hiểu và dễ nhận ra.

Lượng phân bón và cách bón cho chè kinh doanh

Năng suất búp tươi (tạ/ha/năm)

Loại phân

Lượng phân (kg/sào)

Số lần bón

Thời gian (tháng)

Cách bón

Dưới 60 tạ (dưới 220 kg/sào)

- Đạm

- Lân

- Kaly

8-10

10-15

4-5

3-4

1

2

2, 4, 6, 8

2

2, 4

Bón sâu 6-8 cm, cách gốc 25-30 cm

Từ 60 đến dưới 80 tạ (220 kg đến dưới 300 kg/sào)

- Đạm

- Lân

- Kaly

10-15

15-20

5-8

3-4

1

2

2, 4, 6, 8

2

2, 4

Bón sâu 6-8 cm, cách gốc 25-30 cm

Từ 80 đến dưới 120 tạ (300 kg đến dưới 450 kg/sào)

- Đạm

- Lân

- Kaly

15-25

20-25

8-12

3-4

1

2

2, 4, 6, 8

2

2, 4

Bón sâu 6-8 cm, cách gốc 25-30 cm

Trên 120 tạ (trên 300 kg/sào)

- Đạm

- Lân

- Kaly

25-50

25-35

12-17

3-4

1

2

2, 4, 6, 8

2

2, 4

Bón sâu 6-8 cm, cách gốc 25-30 cm

 

4.2 Đốn chè .

* Thời vụ đốn : Hàng năm được thực hiện vào thời kỳ ngủ nghỉ của cây chè từ thỏng 11 nam tru?c d?n thỏng 1 nam sau,

*  Kỹ thuật đốn :

1 . Đốn tạo hình :       (áp dụng cho chè trồng m?i)

* Đốn tạo hình lần 01 : Thực hiện khi cây chè 02 tuổi, đốn thân chính cách mặt đất 25 cm, cành cơ bản cao 35 - 40 cm, dùng dao sắc đốn vát, vết đốn không dập xước, mặt vát quay vào tâm tán .

* Đốn tạo hình lần 02 : Khi cây chè 03 tuổi, độ cao vết đốn = 35 cm .

2. Đốn phớt :                    (áp dụng cho chè kinh doanh)

Sau khi đốn tạo hình, hai năm tiếp theo đốn cao hơn vết đốn cũ = 05 cm, sau đó đốn cao hơn vết đốn cũ 2-3 cm, đến khi độ cao vết đốn = 70 cm so với mặt đất thì đốn sát vết đốn cũ (1-2 cm).

     3. Đốn lửng : (đốn hạ cấp)

Những nương chè đốn phớt nhiều năm độ cao vết đốn trên 90 cm và bị sâu bệnh hại nhiều, búp nhỏ năng suất thấp, thì tiến hành đốn lửng ( hạ cấp) .

Sử dụng dao sắc để đốn, mặt vát vết đốn quay vào tâm bụi chè, không dập xước, mặt tán hơi lõm giữa, bằng phẳng, nghiêng theo sườn dốc .

Yêu cầu loại bỏ hoàn toàn cục, u bứu do nhiều năm đốn phớt tạo thành, độ cao vết đốn tuỳ thuộc vào sinh trưởng của vườn chè, khoảng từ 45 -- > 60 cm.

4.3 Hỏi chố .

* Hái chè vụ xuân ( tháng 3-4) :

Thời vụ này cây chè cho sản lượng TB = 3-5 % cả năm, thời kỳ này áp dụng biện pháp thu hái : Nuôi là chính, hái là phụ , nhằm tạo điều kiện tái tạo, phục hồi bộ tán lá mới, giúp cây chè có khả năng quang hợp tốt nhất sau đốn. Ta thực hiện thu hái 01 tôm + 2-3 lá non (búp mù hái 2 lá non), để lại 01 cá +  02 chừa (búp sinh trưởng mạnh giữa tán chỉ để lại 01 chừa hoặc hái sát lá cá), tạo tán bằng .

* Hái chè vụ hè - thu (tháng 5-10) :

Đây là thời vụ chính, cho từ 80-85% sản lượng trong năm, giai đoạn này cây chè ST & PT mạnh nhất trong năm. Ta thực hiện thu hái 01 tôm + 2-3 lá non (búp mù hái 2 lá non), để lại 01 cá + 01 chừa (búp sinh trưởng mạnh giữa tán  hái sát lá cá hoặc hái cả lá cá), tạo tán bằng .
* Hái chè vụ đông (tháng 11-12) :

Thờì vụ này chè đã giảm khả năng sinh trưởng, búp chè thường (già) hơn, sản lượng chiếm từ 10-12 % cả năm, cây ST & PT chậm lại, thời gian cho 01 lứa hái kéo dài, tuổi của cấp cành ngắn lại. Ta thực hiện thu hái 01 tôm + 2-3 lá non (búp mù hái 2 lá non), để lại 01 cá, tháng 12 hái cả lá cá .

* Yêu cầu:

- Khi thu hái chè (bằng tay hoặc máy) nên đựng trong các giỏ hoặc sọt chắc, nhẹ, không có mùi lạ.

- Chè bỏ vào sọt không được lèn chặt, tránh làm dập nát chè;

- Chè tươi sau khi thu hái phải được đưa ngay về nơi chế biến (chậm nhất không quá 8h);

- Phòng bảo quản phải thoáng, mát, không bị mưa nắng hắt vào;

- Sau 2 - 3h bảo quản dùng sào tre hoặc dùng tay rũ nguyên liệu một lần, không dùng cào sắt để tránh làm dập nát chè;

- Không được để chè trực tiếp tiếp xúc với đất

- Tuyệt đối không được đựng nguyên liệu chè trong bao vải, bao tải và không được nén nguyên liệu chè trong sọt.

- Người hái chè không bị mắc các bệnh truyền nhiễm.

4.4 Quản lý sâu bệnh

Phòng trừ sâu, bệnh hại bằng biện pháp tổng hợp đảm bảo hợp lí về kinh tế và bền vững dựa trên sự phối hợp biện pháp trồng trọt, sinh học, giống khoẻ và hoá học, nhằm đạt sản lượng cao nhất với tác hại ít nhất cho môi trường.

*  Biện pháp canh tác: Cày bừa diệt cỏ, vệ sinh nương đồi, lấp đất diệt nhộng, diệt mầm bệnh, bón phân hợp lí, thay đổi thời kỳ đốn, hái chạy non để loại bỏ chứng sâu, mầm bệnh.

* Biện pháp sinh học sinh thái: Trồng cây bóng mát với loại thích hợp và có mật độ đảm bảo độ ẩm trên nương chè, hạn chế đến mức thấp nhất thuốc hoá học, tăng cường sử dụng thuốc có nguồn gốc sinh học để đảm bảo duy trì tập đoàn thiên địch có ích cân bằng sinh thái nương chè.

* Biện pháp hoá học: Không phun thuốc theo định kỳ, không phun phòng. Phun thuốc theo kết quả điều tra khi có sâu nở mật độ cao hoặc chè mới bị bệnh.

*  Dùng thuốc đúng chỉ dẫn về loại, liều lượng dùng đối với các đối tượng sâu, bệnh hai. Thời gian cách ly đảm bảo  mới được thu hoạch.

* Chỉ dùng thuốc trong danh mục cho phép trên chè của BNN&PTNN, thuốc hoá học phải được sử dụng theo nguyên tắc 4 đúng:

 Đúng thuốc:

            Cần trừ loài dịch hại nào thì chọn đúng thuốc khuyến cáo cho loài đó. Không dùng thuốc đã cấm hoặc không được phép sử dụng trên cây chè. Chỉ dùng thuốc được phép dùng trên cây chè do Bộ Nông nghiệp & PTNT qui định.

 Đúng lúc:

            Thuốc hoá học dùng theo ngưỡng phòng trừ. Chỉ dùng thuốc hoá học khi mật độ rầy xanh đạt cao hơn 5 con/khay, bọ cánh tơ là 1-2 con/búp chè và nhện đỏ nâu cao hơn 5 con/lá.

            Không phun thuốc tràn lan, chỉ phun những nơi sâu bệnh hại đạt ngưỡng phòng trừ.

            Đảm bảo đúng thời gian cách ly qui định đối với từng loại thuốc. Có như vậy dư lượng thuốc trong sản phẩm chè mới ở dưới giới hạn tối đa cho phép

 Đúng liều lượng, đúng nồng độ:

            Dùng theo liều lượng nhà sản xuất khuyến cáo cho từng loài sâu bệnh hại và cỏ dại.

  Đúng cách (đúng kỹ thuật):

            Mỗi dạng chế phẩm thuốc BVTV để chăm sóc che tan cuong thai nguyen được dùng theo một phương pháp nhất định, dùng theo phương pháp nhà sản xuất khuyến cáo. 

Share :

Viết bình luận