Chè Ô Long trên đất Phổ Yên

Chè Ô Long trên đất Phổ Yên

Trà Thái Nguyên - Xã Phúc Thuận, huyện Phổ Yên (Thái Nguyên) nổi tiếng với cây chè từ lâu đời. Cùng với mọi người trong nhà, Nguyễn Thị Hương biết làm chè từ bé. Mặt quen hơi nóng táp từ chảo gang, mũi quen hương chè thay đổi từ lúc mới cho vào sao đến khi thành nụ chè khô, cây chè Phúc Thuận và vị chè quê hương đã trở thành một phần của tâm hồn cô lúc nào không biết.

Bây giờ, dù đã là Giám đốc của Công ty Cổ phần sản xuất - chế biến trà an toàn Vạn Tài, chủ sở hữu dây chuyền trị giá gần 7 tỷ đồng, nhưng Hương vẫn nhớ những lý do để nhiều năm cây chè Phúc Thuận leo theo, cằn cỗi, cuộc sống nông dân cũng xơ xác, nghèo túng.

Năm 2001, Hương đi lao động ở Đài Loan (Trung Quốc) và được bố trí làm ở một bệnh viện. Thấy cô gái duyên dáng, chăm chỉ làm việc nhưng luôn phảng phất buồn, một người bệnh bèn hỏi han quê quán, khi biết cô người Thái Nguyên, đất chè nổi tiếng của Việt Nam, họ đã mua tặng cô hộp chè Ô Long, bộ cốc chén để cô uống chè cho đỡ nhớ nhà. Nhìn hộp chè xinh xắn, ngắm những cánh chè cuộn chặt, thơm phức, Hương bỗng dấy lên niềm ham muốn: Sản xuất loại chè như thế này ngay trên đất Phúc Thuận quê mình. Suy nghĩ đó bám riết và dần trở thành ước muốn cháy bỏng trong cô. Ngoài giờ làm việc, Hương đã đến nhiều cơ sở sản xuất chè của nước này để tìm hiểu, cô thấy ở đây có nhiều xưởng sản xuất chè gọn nhẹ, rất hợp với ý định của mình. Một trong những yêu cầu của trà Ô Long là vùng nguyên liệu ở càng cao so với mực nước biển thì càng tốt, Phúc Thuận quê cô lại không có độ cao lý tưởng đó. Cẩn thận, cô đã về quê mang búp chè quê cô sang Đài Loan sản xuất thử. Kết quả thật tuyệt, khiến Hương càng quyết tâm về Thái Nguyên dựng nghiệp.

Bắt tay vào làm mới được năm năm nay, nhưng giờ đây Hương đã có vùng nguyên liệu mười ha, ngoài ra Hương còn hợp đồng với 20 hộ khác trong xã, cung cấp phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và bao tiêu sản phẩm của họ. Một trong những tiêu chí của sản xuất trà an toàn là không dùng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật có thành phần hóa học. Từ lúc ngọn chè được hái về đến khi ra thành phẩm để đóng gói, hút chân không, phải qua nhiều công đoạn khắt khe, cầu kỳ. Tận mắt chứng kiến việc sản xuất chè ở Vạn Tài, mới thấy để ra được mẻ chè thành phẩm phải tốn rất nhiều công sức, mồ hôi: Sau công đoạn sào chè, vò mềm, sấy sơ qua, những "quả" chè tròn vo, bọc trong túi chuyên dụng phải trải qua 100 lần công đoạn: bọc, vò, đánh tơi rồi lại bọc, vò, đánh tơi. Sờ vào "quả" chè rắn như đá tảng cho vào máy để định dạng búp, tôi mới hiểu vì sao hình thức các loại trà khô của Vạn Tài khác hẳn với trà Thái Nguyên thông thường tôi vẫn được biết, mặc dù "đầu vào" vẫn là một tôm, hai lá. Các công nhân ở đây cho biết: Quy trình sản xuất một mẻ trà Ô Long từ 36 giờ đến 48 giờ. Mỗi mã chè hái về xử lý một khác: căn cứ vào thời điểm hái, thời tiết lúc hái mà điều chỉnh. Bởi vậy kinh nghiệm và cảm nhận là điều quan trọng quyết định chất lượng. Hương đã thuê chuyên gia từ Đài Loan sang hướng dẫn cả tháng trời, với mức lương 3 triệu đồng/ngày, để huấn luyện đội ngũ chuyên gia của công ty.

Trước mặt tôi là các hộp chè thành phẩm của Vạn Tài: Ô Long, Hồng trà, trà đen, trà xanh, trà túi nhúng. Mở nắp hộp chè, đã thấy hương thơm dịu lan tỏa. Những cánh chè xoắn quyện, đổ vào ấm kêu roong roong. Nhìn Hương pha trà duyên dáng, tôi liên tưởng đến các cô gái trình diễn nghệ thuật pha trà trong ngày Văn hóa trà của Thái Nguyên. Đúng vậy, để có được những ấm trà này, phải thật sự đam mê, thật sự dũng cảm. Đợi tôi nhấp xong tách Hồng trà, Hương bảo:  Trà Thái Nguyên  an toàn không hợp "gu" với những ai quen uống chè "cắm tăm", vì chất ta-nanh trong chè đã được xử lý hết. Người Việt Nam mình, đặc biệt là người Thái Nguyên quen uống trà đặc, chát, đôi khi ướp các loại hoa cho thơm ngào ngạt. Một điều thú vị là Ô Long sản xuất ở Vạn Tài có hương vị mật ong, mặc dù cô không hề cho cây chè "ăn" đường. Hương bảo, giống chè lạ lắm, cho ăn gì thì có hương vị ấy, nên ở nước ngoài người ta tưới cho chè trứng gà, sữa tươi để có hương vị đặc biệt. Ấy vậy mà, Ô Long sản xuất ở vùng chè Phúc Thuận lại phảng phất mùi mật, khiến có đêm sao chè, ong mật bay vào đầy xưởng. Âu đó cũng là quà của quê hương Phúc Thuận tặng riêng cho Hương.

Mới hơn một năm xây dựng nhà xưởng, thành lập công ty, hiện nay đơn vị của Hương mỗi tháng làm ra khoảng 4 tấn chè thành phẩm, thu hút 40 công nhân là người địa phương với mức lương từ 1,2 đến 2 triệu đồng/tháng. Điều Hương khẳng định qua thời gian thử thách là: cô đã tìm ra cho mình con đường đi riêng, đúng hướng và tiếp tục mở rộng để phát triển, dù trên cả nước nói chung, ở Thái Nguyên nói riêng đã có nhiều "cây đa, cây đề" về sản xuất, kinh doanh chè. Những cố gắng của Hương đã bước đầu được ghi nhận: Hương được T.Ư Đoàn tặng giải thưởng Lương Định Của dành cho nhà nông trẻ xuất sắc; Tỉnh đoàn Thái Nguyên tặng Kỷ niệm chương Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác.

"Tôi không nghĩ mình phải đầu tư thật lớn hoặc có tham vọng xuất khẩu ra nước ngoài, tôi muốn tìm cho mình một lối đi riêng, nhỏ thôi cũng được, nhưng phù hợp với khả năng, với hy vọng dần dần sẽ chiếm được lòng tin và làm thay đổi thói quen dùng trà của người tiêu dùng Việt Nam", Hương nhỏ nhẹ nói với tôi như vậy.

Share :

Viết bình luận