Làng chè tỷ phú

Làng chè tỷ phú

Trà Thái Nguyên - Trong khi DNNN vật vã với cây chè, chè làm ra ế ẩm thì có một làng chè giàu có, sung túc. Dù cây chè có thăng trầm thì bao đời nay người dân xóm Khuôn 2, xã Phúc Trìu (TP Thái Nguyên) vẫn sống dư dả nhờ loại cây này.

Cụ bà Nguyễn Thị Vấn, 91 tuổi (thứ 2 từ phải sang) hướng dẫn cho bà con kinh nghiệm làm chè đặc sản

 

Cụ bà Nguyễn Thị Vấn, 91 tuổi hôm nào cũng lên giường đi nằm từ lúc 20 giờ tối. 3 giờ sớm hôm sau cụ trở dậy, lụi cụi dọn dẹp nhà cửa, thổi nấu cơm, nước cho các con cháu dậy dùng bữa để đi làm. Cả làng chè xóm Khuôn 2, xã Phúc Trìu (TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên) ai cũng biết bà cụ là người lam làm, tiếc việc, nên cữ tuổi này cụ vẫn tranh thủ cùng con cháu đi hái chè. Bà bảo: Phải làm việc thì cái chân, cái tay nó mới khỏe, cái đầu nó cũng không bị mụ mị.

Cụ Vấn là một trong những cư dân người miền xuôi từ các tỉnh Vĩnh Phú (cũ), Nam Định...lên đây định cư từ những năm sau ngày đất nước giành độc lập. Cùng thời với cụ Vấn còn có các ông Nguyễn Văn Tính, Ngô Trung Lộc... Bấy giờ vùng đất này toàn rừng lim, có cây cổ thụ to bằng cả người ôm không xuể. Trong ngôi nhà xây 4 gian đổ mái cả 2 tầng (8 gian) của mình, ông Tính trầm ngâm kể chuyện: Ôi! hổ dữ lắm, làng xóm chỉ có vài nóc nhà, nứa cắm xung quanh, hở ra là hổ vồ mất lợn trong chuồng. Tuy làng xóm chẳng có mấy nhà, song hầu hết các hộ đều phải đi làm thuê cho nhà địa chủ Phán Nhàn, Ba Hy...Cực nhất phải hôm thu hái chè, cả buổi phơi lưng dưới nắng, tối ngồi ôm cái chảo đặt trên bếp lửa. Khi từng búp chè khô ròn thì lưng áo mình ướt sũng.

Để chúng tôi hiểu hơn về vùng chè Khuôn 2 của Phúc Trìu, Phó Chủ tịch UBND xã, ông Long Văn Thịnh đưa chúng tôi đi qua những con đường bê tông chẻ dọc những ngọn đồi bát úp. Mới sau một tuần mưa, những nương đồi cũng mơn mởn một màu xanh của chè. Bằng cả niềm tự hào, ông Thịnh tâm sự: Vùng đất Khuôn 2 này cho ra thứ chè ngon, vị đượm không kém chè bên Hồng Thái của Tân Cương. Dạo trước xuân Canh Dần 2010, nhiều hộ dân của Khuôn 2 bán 1 cân chè được hơn triệu bạc. Còn trung bình được từ 300 đến 500 nghìn đồng/kg...

Cùng đi thăm chè, ông Mai Nhất Khánh, trưởng xóm cho biết: Hiện xóm Khuôn 2 có 83 hộ, 350 nhân khẩu, 100% số hộ trong xóm đều có đất trồng chè. Từ khoảng năm 1990 đến nay, diện tích chè của xóm ổn định ở gần 40 ha. Năng suất chè búp tươi cũng tăng qua các năm, từ khoảng 60 tạ/ha năm 1990 lên 70 tạ/ha năm 2000. Còn từ năm 2008 đến nay, nhờ tích cực áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, như việc nông dân đầu tư mua chè cành giống mới: TRI 777, LDP1, Bát Tiên, Phúc Vân Tiên...về trồng thay thế diện tích chè già cỗi, nên năng suất chè ổn định 100 tạ/ha, tương đương với sản lượng Trà Thái Nguyên  4.000 tấn/năm.

Vừa khi đó Bí thư chi bộ Nguyễn Văn Thanh tới nơi, Bí thư mộc mạc, bảo: Nghị quyết của chi bộ là chè, như năm 2010 này chi bộ có nghị quyết phấn đấu trên diện tích đất trồng chè đạt 120 triệu đồng/ha trở lên, cao hơn năm 2009 hơn 20 triệu đồng.

Đương nhiên đã là dân vùng chè, thì trăm thứ cần đến tiền đều từ búp chè mà có. Đơn giản là tiền đóng học cho con, tiền đi mừng đám cưới và hơn nữa, gần 100% số hộ trong xóm xây nhà, mua sắm xe máy, tivi...đều nhờ cây chè. Ngay như vợ chồng anh Ngô Văn Nam - Đỗ Thị Hoa, sau khi xây dựng gia đình được bố mẹ cho hơn 6 sào đất chè. Sau 3 năm chăm bón, thu hái anh chị đã có tiền xây ngôi nhà trị giá khoảng 300 triệu đồng. Với anh Nguyễn Văn Tiến, 32 tuổi, hiện đang ở cùng bố mẹ trong ngôi nhà xây 2 tầng khang trang, chưa kể ngôi nhà ngang có công trình vệ sinh khép kín. Trước Tết Nguyên đán vừa rồi, anh Tiến mới mua chiếc tivi màn hình siêu phẳng trên 30 inch với giá hơn 10 triệu đồng.

Tôi hỏi vui: Anh đã phải tiết kiệm mấy năm để mua? Tiến hồn nhiên: Vài lứa chè là OK, thưa bác. Tiến còn cho biết thêm: Con gái, con trai làng chè xóm Khuôn 2 phần nhiều đã tự mua sắm được điện thoại di động. Nhiều cô gái mới lớn đã có dây chuyền vàng, bông tai…Tiền mua sắm do đi hái chè giúp được người làng trả công.

Ông Mai Văn Thành, Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã, đồng thời là cư dân của xóm Khuôn 2 tâm đắc: Nếu nói làm chè giỏi thì cả Khuôn 2 nhà nào cũng giỏi. Giỏi vì các hộ đua nhau cùng làm, cùng tích cực tham gia các lớp tập huấn chuyển giao KHKT sản xuất chế biến chè an toàn. Rồi hằng ngày đi làm đổi công, bà con lại cùng nhau trao đổi kinh nghiệm, nhất là bí quyết để làm ra được cân chè ngon.. Chúng tôi cùng bước tới mấy lạch chè đang được cánh phụ nữ thu hái, một tình cờ tôi gặp ở đó bà cụ Vấn. Chỉ thêm 9 năm nữa cụ đầy tuổi 100. Phải nói to cụ mới nghe rõ, nhưng mái tóc cụ còn đen lắm. Thấy chúng tôi, đôi tay cụ hái chè nhẩn nha hơn. Tôi hỏi vui chuyện bí quyết sống lâu, cụ bảo: Mỗi ngày uống vài bát nước chè tươi thì đầu óc tỉnh táo…

Ông Thịnh thông báo thêm cho tôi một tin vui: Xóm Khuôn 2 đang chuẩn bị đón Bằng công nhận làng nghề. Hiện mọi thủ tục đã làm xong...

Cũng nhờ biết bảo nhau làm chè an toàn, nên người dân Khuôn 2 dần tạo được thương hiệu, đáp ứng được yêu cầu khó tính của khách hàng. Tuy đang bận rộn với mẻ chè xao dở trên lò, bà Tạ Thị Lư, con dâu bà cụ Vấn cũng đon đả: Nông dân Khuôn 2 chúng tôi làm chè ra đến đâu, có người đến mua hết ngay. Như tối hôm trước, mấy chị ngoài phố vào đợi đến 23 giờ khuya, chè “ra lò” còn nóng dẫy, chưa kịp sàng bồm, xẩy cám đã đòi cân, vì sợ để hôm sau người khác vào mua mất.

Mỗi năm, nông dân Khuôn 2 thu hái từ 7 đến 8 lứa chè, nhưng “ăn nhất” vẫn là vụ chè Đông. Song khó khăn vì chưa có công trình thủy lợi, hầu hết các hộ đều phải dùng đến máy bơm hút nước từ các ao nhà, hoặc bơm dẫn từ dòng kênh Hồ Núi Cốc chạy qua rìa xóm. Những người gắn bó hơn 40 năm với cây chè như ông Ngô Văn Khẩn, Nguyễn Văn Tính, Ngô Văn Duyên đều ở tuổi mấy nay hiếm cho rằng: Nếu Khuôn 2 được Nhà nước xây dựng cho 1 trạm bơm, nông dân trong xóm sẽ tự nguyện đóng góp xây dựng hệ thống thủy lợi, đời sống người làm chè sẽ càng thêm sung túc.

Share :

Viết bình luận