Sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP: Những “nút thắt” cần tháo gỡ

Sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP: Những “nút thắt” cần tháo gỡ

Để nâng giá trị kinh tế của cây chè – cây trồng chủ lực của Thái Nguyên, tỉnh ta đã và đang triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và quảng bá thương hiệu sản phẩm trà Thái Nguyên. Trong đó, xây dựng các mô hình sản xuất chè an toàn sinh học theo tiêu chuẩn VietGAP là một trong những định hướng được tập trung thực hiện.

Mô hình chè VietGap của gia đình ông Đỗ Viết Tham, xóm 5, thị trấn Sông Cầu, huyện Đồng Hỷ (Thái Nguyên)

 

Chè VietGAP là sản phẩm chè an toàn, có quy trình sản xuất trà Thái Nguyên nghiêm ngặt từ khâu chăm sóc, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm. Hiện nay, các mô hình chè VietGAP đang được các nhà quản lý, người tiêu dùng và người trồng chè đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, quá trình sản xuất chè theo tiêu chuẩn này vẫn đang gặp nhiều khó khăn. Từ mô hình đầu tiên được thực hiện tại xã Hòa Bình (Đồng Hỷ) năm 2009, đến nay chè VietGAP đã có mặt ở nhiều địa phương trong tỉnh như: Đại Từ, T.P Thái Nguyên, Phú Lương, Định Hóa, Võ Nhai… Tuy nhiên, quy trình sản xuất này vẫn chưa thực sự phổ biến và nhân rộng thành những vùng sản xuất hàng hóa, thực tế vẫn còn tồn tại nhiều “nút thắt” cần được tháo gỡ.

 

Trước tiên, khi tham gia vào mô hình sản xuất chè an toàn, người nông dân sẽ phải tuân thủ một quy trình nghiêm ngặt từ khâu chăm sóc, thu hoạch đến chế biến. Đó là, hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học, tăng cường các loại phân bón vi sinh; quá trình sản xuất và chế biến phải được ghi chép nhật ký chi tiết; sản phẩm chỉ được cấp giấy chứng nhận với sự kiểm tra, đánh giá thường xuyên của cơ quan chức năng... Khi thực hiện các mô hình, người dân sẽ được hưởng một số hỗ trợ về kỹ thuật và kinh phí để cấp giấy chứng nhận. Tuy nhiên, chương trình hỗ trợ chỉ kéo dài trong khoảng thời gian nhất định. Ông Nguyễn Văn Định, thành viên Tổ hợp tác chè ở xóm 11, xã Tân Linh (Đại Từ) cho biết: Quy trình phức tạp như vậy, nhưng thực tế giá bán chè VietGAP không cao hơn nhiều, thậm chí có thời điểm chỉ tương đương với sản phẩm chè thông thường. Việc tiêu thụ sản phẩm vẫn chủ yếu thông qua tư thương hoặc bán trực tiếp ngoài chợ. Mặc dù một số nơi đã đăng ký được thương hiệu và đóng gói sản phẩm nhưng các đơn đặt hàng cũng rất hạn chế. Chị Cao Thị Ninh, một thành viên của Tổ hợp tác chè xóm Thác Dài, xã Tức Tranh (Phú Lương) cho biết thêm: Xuất phát từ giá bán chè VietGAP không cao hơn nhiều, thậm chí đôi khi còn bị tư thương chê “xấu mã” và nhạt nước để ép giá nên nhiều hộ tuy đã đăng ký tham gia nhưng không mặn mà để duy trì. Một số không ghi chép thường xuyên nhật ký sản xuất nên không chứng minh được mức độ tin cậy của sản phẩm, dẫn đến mất thị trường tiêu thụ với những khách hàng khó tính. Một khía cạnh nữa cần đề cập, đó là các mô hình chè VietGAP hầu hết có quy mô diện tích nhỏ, trung bình từ 20-30ha, trong khi số lượng thành viên tham gia đông. Do vậy, các thành viên trong Ban quản lý rất khó kiểm soát chặt chẽ quy trình sản xuất của từng hộ. Mỗi gia đình lại có một phương pháp chăm sóc, chế biến chè truyền thống riêng nên việc đảm bảo tuân thủ quy trình nhiều khi khó thực hiện. Anh Trần Như Sơn, cán bộ Ban Quản lý Đề án phát triển chè (Sở Nông nghiệp - PTNT) cho biết: Qua kiểm tra cho thấy, nhiều hộ dân không ghi chép sổ nông hộ hoặc ghi chép thông tin không đầy đủ, do đó khó truy được nguồn gốc và khó kiểm soát chất lượng sản phẩm chè … 

 

Du khách thưởng trà được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap của làng nghề chè xóm Thác Dài, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương (Thái Nguyên)

 

Thêm một vấn đề nữa là các mô hình sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP cũng đang thiếu “bà đỡ” cho sản phẩm sau khi được công nhận. Do đó các tổ hợp tác chè vẫn “loay hoay” trong việc đăng ký nhãn hiệu theo Luật Sở hữu trí tuệ và chưa có định hướng tiêu thụ sản phẩm rõ ràng. Cùng với đó là mối liên hệ, sự quan tâm chỉ đạo của chính quyền địa phương một số nơi còn hạn chế. Thực tế, mối liên hệ của tổ hợp tác chè VietGAP với cơ quan chức năng chủ yếu thông qua các cán bộ dự án của Sở Nông nghiệp và PTNT. Trong khi đó, quá trình sản xuất, tiêu thụ phát sinh nhiều vấn đề cần thêm sự hỗ trợ của chính quyền cơ sở và các ban, ngành khác. Đơn cử như việc tổ hợp tác có nhiều hộ dân tham gia, tâm lý không thống nhất, một số tổ viên không áp dụng đúng quy trình, ghi chép sổ sách không đầy đủ thì một phần cũng là do chính quyền địa phương chưa tích cực tuyên truyền hiệu quả. Các tổ chức đoàn thể như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ… chưa nắm bắt được tâm lý để thực hiện vai trò định hướng, hỗ trợ người dân phát triển sản xuất..

 

Định hướng sản xuất trà Thái Nguyên an toàn là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp, thực tế những ưu điểm của chè VietGAP đã được chứng minh. Tuy nhiên, để các sản phẩm chè an toàn có chỗ đứng trên thị trường, từ đó giúp người dân nâng cao thu nhập để họ duy trì và phát triển hình thức này thì cần sớm khắc phục những “nút thắt” đã nêu ở trên. Bên cạnh tăng cường tuyên truyền, các địa phương cần quy hoạch sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo vùng sản xuất tập trung và hoàn thiện cơ sở hạ tầng như giao thông, thủy lợi, trạm bơm, hệ thống điện. Các cơ quan chức năng tăng cường thanh, kiểm tra, xử lý những cơ sở sản xuất, kinh doanh chè không an toàn, hướng người tiêu dùng đến các sản phẩm đạt tiêu chuẩn. Và yếu tố quyết định cho sự thành công của các mô hình chè VietGAP vẫn là thị trường, cụ thể là tâm lý của người tiêu dùng. Bởi vậy, mỗi cá nhân nên là một người tiêu dùng thông thái, lựa chọn an toàn cho bản thân và gia đình, cũng là cách khuyến khích các mô hình sản xuất chè sạch trên địa bàn tỉnh...   

Share :

Viết bình luận